Sách nói Út Quyên Và Tôi - Nguyễn Nhật Ánh
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Giông Tố

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vịnh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:54' 08-04-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Vịnh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:54' 08-04-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
GIÔNG TỐ
Vũ Trọng Phụng
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
ĐOẠN KẾT
Dư Luận
Vũ Trọng Phụng
GIÔNG TỐ
Chương 1
Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng vặc... cánh đồng lúa chín như một
tấm thảm vàng. Con đường quan lộ rải nhựa, như một con rắn bóng nhễ
nhại, nằm uốn khúc trên tấm thảm ấy. Những làng mạc xa xa hiện ra những
nét vẽ thẳng đen sì.
Đó là vào tháng mười, năm 1932.
Giữa lúc đêm khuya tịch mịch ấy, trên con đường quan lộ, mà thỉnh thoảng
mới có một vài cây xoan không lá khẳng khiu và tiều tụy như thứ cây trong
những bức họa về “cảnh chết”, một chiếc xe hòm phăng phăng chạy hết
tốc lực, thân xe chỉ là một cái chấm đen bóng, còn hai ngọn đèn sáng quắc
chiếu dài hàng nửa cây số thì như hai cái tên vun vút bay dưới ánh trăng.
Xe đương phăng phăng chạy thì đến gần một chỗ ngoặt mà bên đường có
một lớp quán gạch và một cây đa cổ thụ, bỗng dần dần chậm lại, rồi đứng
hẳn.
Khi xe đã đứng dừng lại lâu rồi, người ta còn thấy sự cố sức của người tài
xế mở máy sình sịch mấy lần nữa mà xe vẫn không nhúc nhích được một
ly. Rồi thì từ xe bước xuống, hai người tài xế hấp tấp ra mũi xe, lật miếng
sắt che máy ra, loay hoay kiểm điểm bộ máy. Trong khi hai người chưa tìm
được cỗ xe chết vì lẽ gì, thì từ trong hòm kính thấy đưa ra một câu hỏi gắt
rất ngắn, nhưng cũng đủ làm cho cả hai run lập cập.
- Thế nào?
Vài phút im lặng, rồi người tài xế chính ấp úng đáp:
- Bẩm quan, con đã thấy rồi. Cái ống cao su dẫn ét xăng có một đoạn nát
nhủn, đến nỗi xăng chảy cả ra ngoài nhưng mà xuống không thoát.
- ...! Sao không liệu mà thay vào cái chuyến chữa hôm nọ đi?...
Dứt lời “chửi”, “quan” bước xuống xe và sập cửa xe rất mạnh để tỏ ý giận
dữ. Đó là một người gần 50 thân thể vạm vỡ, hơi lùn, trước mặt có một
cặp kính trắng gọng vàng, trên môi có một ít râu lún phún kiểu tây, cái mũ
dạ đen hình quả dưa, cái áo đen bóng một khuy, cái quần đen, rọc trắng, đôi
giày láng mũi nhọn và bóng lộn, làm cho lão có cái vẻ sang trọng mà quê
kệch, cái vẻ rất khó tả của những anh trọc phú học làm người văn minh...
Tài xế chính và phụ, cả hai đều sợ hãi lắm, cứ việc châu đầu vào cái hòm
máy, lúc đánh diêm soi, lúc sờ soạng như
xẩm tìm gậy, chứ không dám quay lại nhìn đến ông chủ, lúc ấy đứng dạng
háng giữa đường, hai tay khoanh trước ngực, đầu hơi cúi xuống phía trước
mặt, cặp mắt gườm gườm hứa một sự trừng trị đáng sợ. Bị chủ mắng tài xế
chính khẽ quát người phụ:
- Cầm lấy cái mùi xoa này, buộc nối vào hai đầu dây cao su! Mau lên! Mà
quấn rõ chặt cho nó thật kín chứ!
Rồi người tài xế chính lại lên ngồi mở máy thử. Cái xe kêu sình sịch một
lúc lâu rồi lại thôi. Mấy bận đều thế cả, hai người càng hấp tấp bao nhiêu,
càng gia công vất vả bao nhiêu thì cái xe càng bướng bỉnh, càng ỳ ra bấy
nhiêu. Lão chủ cười nhạt mà rằng:
- Tội chúng mày đáng chết cả đó, các con ạ!
Hai anh làm công đưa mắt nhìn nhau lo sợ, chứ không dám nói gì. Lão chủ
lại tiếp:
- Chúng mày để ông ngủ đường thì khốn cả đó!
- Lạy quan, chẳng may như thế này, quan thương cho.
Tài xế chính van lơn như vậy rồi lại ra hiệu ngầm cho người phụ mình cứ
việc vờ vịt loay hoay chữa một cách vô hiệu cái bộ máy hầu như không thể
chữa được ấy.
Lão chủ hỏi:
- Thế còn bao nhiêu cây nữa đến Hà Nội?
Anh phụ lái nhanh nhảu thưa:
- Bẩm chỉ còn độ bốn mươi cây.
- Hừ!
Lão chủ hừ một cái đi đi lại lại trên đường bực tức cực điểm.
Nguyên lão ta là một ông đồn điền giàu có đã khét tiếng miền trung thổ,
bữa nay đương đêm khuya về thủ đô, là vì muốn để sáng sớm hôm sau có
đủ thời giờ đến một cửa hiệu kim hoàn, mua một thứ hàng quý giá, để
mừng một ông tổng đốc được đệ nhị đẳng Bắc đầu bội tinh. Cho nên khi
thấy xe bị liệt máy như thế ở giữa đường, đương đêm khuya, không còn
biết cầu cứu vào đâu nữa thì lão băn khoăn và bực tức, băn khoăn về nỗi sợ
đến mừng chậm hơn những người khác thì mất vẻ long trọng, và bực tức
về nỗi từ khi lão ta giàu có đến phú gia địch quốc, từ một anh cai phu mỏ
lên đến bậc nhân dân đại biểu, thì chưa hề có một sự gì trái ý lão mà lão lại
phải chịu. Lần này là lần đầu, lão phải chịu thua cái máy xe hơi.
Lão đi đi lại lại như cuồng chân, như con hổ trong cũi sắt, nghĩ đến những
cái má hồng mơn mởn, những cánh tay trắng như ngà ngọc của mấy cô
đào ở Hà Nội... nếu tài xế của lão đã biết lo liệu từ trước cho cái xe lúc nào
cũng lành lặn hoàn toàn. Vậy mà bây giờ lão phải thơ thẩn giữa nơi đồng
không mông quạnh ngắm trăng suông, nhìn sương tỏa, nghe giun kêu dế
khóc, bên cạnh những
tiếng búa gõ vào sắt cành cạch, những tiếng sình sịch của một cái xe hơi
khó tính cứ muốn chạy lại thôi...
- Tao cho chúng mày nửa giờ sau nữa đấy!
Nói rồi, lão nhằm phía cây đa mà đi thẳng trên một con đường nhỏ, qua
cánh đồng, đi dạo chơi cho tiêu diệt thì giờ, cũng không có mục đích gì
khác...
Mặt trăng lúc này thì mảng mây to lướt qua che đi thành thử trời đất tối
sầm hẳn lại. Sương xuống dầy quá, làm ướt cả áo của lão. Giữa cánh đồng
thấy tản mạn những cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất lúc cháy lúc tắt, như
ma trơi. Tiếng côn trùng tỉ tê, ri rỉ, làm cho lão ta bắt đầu cảm thấy sự im
lặng, hiểu rõ được ý nghĩa sự vắng tanh và thôi cũng không nện mạnh gót
giầy xuống đường lộp cộp nữa. Hai tay đút túi quần, lão cúi đầu xuống mà
đi, có vẻ ngẫm nghĩ như một nhà triết học... Chợt thấy về phía trước mặt
có tiếng cười khúc khích... Lão ngẩng lên, thấy bốn năm đống rạ lù lù tiến
đến. Thì ra một bọn thợ cấy đi gánh rạ đêm. Ngần ấy người cười nói
chuyện trò vui vẻ lắm.
Lão đứng tránh ra một bên.
Những đống rạ cũng lù lù tiến đến.
Đám mây to đã buông tha mặt trăng ra rồi. Trời đất lại sáng quang vì cái
ánh trăng lạnh lẽo.
Bọn thợ cấy thấy có một người ăn mặc tây đứng đấy thì thôi không
chuyện trò gì với nhau nữa, chỉ len lén rón rén đi qua. Bà lão già đi đầu khẽ
thưa.
- Quan lớn làm ơn nánh cho chúng con đi một thị.
Lão bèn làm ra cái bộ thương người mà hỏi cả lũ:
- Các người đi làm đồng khuya nhỉ? Mùa màng có khá không?
Một người trong bọn đáp một câu oán hận:
- Bẩm quan, lúa bị sâu cắn ráo cả, không đủ tiền thuê ạ.
Bà lão già đi đầu qua rồi thì đến một mụ trông bẩn thỉu. Mụ thứ ba trông
cũng xấu xí. Người gánh cái gánh rạ thứ tư là một ông lão râu đã bạc, cái
đầu trọc quấn trong miếng vải nâu trông như một cái mõ nhà chùa, gánh
thứ năm thì do một cô ả mà quần áo trông gọn ghẽ hơn hết thảy.
Lão trố mắt nhìn... Cô ả gánh rạ hơi cúi nghiêng mặt để đưa mắt nhìn trộm.
Ánh sáng trăng tuy leo lét, song cũng đủ khiến cho hai con mắt rất tinh
tường của nhà điền chủ nom thấy rõ hai cái má phúng phính, một cặp môi
nhỏ và dầy, cái cằm tròn trĩnh và hơi lẹm trong cái vành khăn mỏ quạ bằng
láng thâm. Khi cô ả gánh rạ đi qua, nghĩa là cái mặt đã khuất sau đống rạ
tròn, nhà điền chủ lại trông theo cái váy nâu cũn cỡn, do một đường lạt
khíu giữa, cho nó chẽn đến nửa đùi, một bộ đùi phốp pháp
trắng nõn, trông rất đáng yêu, mặc lòng từ bụng đến bàn chân đều có một
lớp bùn trắng, mỏng, khô, đông lại, đã nứt ra thành từng miếng nhỏ, sắp rơi
xuống...
Nhà tư bản đứng trông cái bộ đùi thôn nữ ấy một cách tần ngần trong đến
vài phút, đoạn như định thần lại, thoăn thoắt bước theo mà nói bằng một
giọng rất ân cần:
- Này chị gánh cái gánh lại chỗ xe ô tô kia, tôi mua một ít cho.
Thấy lời nói lạ tai ấy, chị nhà quê đứng lại, nửa tin, nửa ngờ.
Lão này nhanh nhảu dùng đến cái giọng hách dịch:
- Xe nổ lốp, người ta phải mua rạ để nhồi vào bánh, mà có sẵn rạ lại không
bán hay sao? Alê mau lên gánh lại, quan lớn trả cho tiền một nửa gánh!
Còn các bà già kia có muốn chờ thì cứ đi đủng đỉnh lại một tí, chị ấy đem
lại chỗ xe đây kia thôi.
Nói xong, lão khôn ngoan bước nhanh về chỗ cái xe. Bọn thợ gặt cũng
đủng đỉnh lên đến đường cái quan thì đặt gánh, ngồi phệt xuống đất, cẳng
xoạc ra và hai tay bó làm một. Còn chị nhà quê ngây thơ thì thoăn thoắt
gánh gánh rạ thẳng tiến đến cái xe hơi, trong đó quan đã chễm chệ lên ngồi
và bật đèn sáng quắc lên rồi.
Hai anh tài xế quay lại, ngừng tay, nhìn ông chủ như có ý đợi lệnh gì thì lão
chủ quát:
- Chúng mày ngẩn người ra làm gì thế? Chúng mày định để ông ngủ đêm
trên xe này phải không?
Thế là cả hai lại quay đầu vào bộ máy. Một anh vẫn còn có gan khẽ nói:
- Bẩm quan, con đã cắt được một đoạn dây ở chỗ khác để thay vào đây rồi.
Chậm lắm thì cũng chỉ nửa giờ nữa là xe chạy được.
Lời ông chủ:
- Ông cho chúng mày một giờ nữa!
Nói xong, lão chủ quay lại sau lưng nhìn qua miếng kính hậu ở hòm xe thì
thấy bọn thợ gặt đặt gánh ngồi chờ ở chỗ cách xa ô tô những ba mươi
thước còn cô bán rạ thì đã đến đứng bên cửa xe.
- Thưa quan, quan dùng hết cả gánh, hay độ bao nhiêu con tháo...
- À, con bán cho quan lớn một bên nhé! Tháo đi rồi quan cho tiền.
Trong lúc cô ả lúi húi tháo một bên quang thì nhà điền chủ ló đầu ra, đôi
mắt phong tình ngắm nghía không chớp...
- Bẩm con gạt rạ ở bên đường đó ạ.
- Ừ, để rồi quan cho tiền.
Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê
cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại
hỏi:
- Con tính bao nhiêu?
- Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.
- Được lắm! Con ngoan ngoãn lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy
lên xe này để quan đóng cửa không rét quan... Ta đang đến tiềm đây.
Chị nhà quê nhìn đến những đệm dạ đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng
nhoáng, con búp bê Nhật hay hay, treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ
sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám
bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe, chị đành liều mà
bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập một cái rồi lại hỏi:
- Thế con làm vất vả như thế thì mỗi ngày được bao nhiêu?
- Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.
- Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc tết nhé! Đây này,
năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho
chồng.
- Con xin quan lớn, cảm ơn quan lớn.
- A, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?
Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên.
- Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.
- Ấy khoan đã! Mặt con tái đi thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó,
để quan lấy cho một tị dầu trong này mà bôi rồi về thì về.
Nhà điền chủ nói xong lấy ở áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào
miệng lọ lắc một cái, rồi quờ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên
và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.
...
- Giời ơi! Con lạy ông, ông buông con ra!
Giọng quan vẫn ngọt ngào:
- Con im, không được cưỡng... - Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một
đời tôi!
- Im ngay! Quan sẽ cho nhiều tiền... - Bỏ ra! Ái.
- Im cho ngoan nào... - Ối giời đất ơi! Ối làng nước...
Hai anh tài xế khôn ngoan và trung thành muốn át những tiếng ấy, cứ việc
gõ búa thình thình vào một bộ phận nào đó trong động cơ...
Mãi đến lúc ông điền chủ ngồi lên bật đèn, chị nhà quê vẫn nằm đờ trong
xe, hai tay bưng mặt, ngất đi. Lão này cúi xuống, hôn một cái hôn cuối
cùng, lôi cái váy xuống, nhấc chị nhà quê ngồi dậy, mở cửa xe mà đẩy
người ta xuống...
- Thôi, con về với họ mau lên không họ chờ.
Chị nhà quê bị đùn ra thì ngồi phịch xuống đất, vẫn rũ người ra khóc: “Ối
cha mẹ ơi! Ôi cha mẹ...”. Lão này thản nhiên đóng sập cửa lại.
Rồi quát hỏi:
- Xong chưa?
Hai anh tài xế cuống quít gõ một hồi nữa rồi anh phụ trèo lên mở cửa thử
máy. Chợt có tiếng nổ ghê gớm của một lũ người cùng kêu một lượt:
- Ối làng nước ơi! Ối làng nước ơi! Người ta giết người!!!
Nhà điền chủ quay lại nhìn thì đó là mấy người đàn bà đứng cách xa xe,
nhưng mà chỉ kêu choáng lên thôi chứ không dám bén mảng đến. Còn chị
nhà quê vừa mất tân tiết thì vẫn ngồi sệt dưới đất, bên cạnh đống rạ, mà
kêu, mà rên...
Động cơ xe hơi nổ sình sình.
Đằng xa thấy một hồi tù và rúc lên.
Cánh cửa sập một cái, anh ét lên nốt xe...
Ở sau có tiếng lào xào: - “Ta hay Tây? Ta hay Tây?” Nhà điền chủ quay lại
lần nữa thì đó là một bọn người có tay thước, áo tơi, quần xắn gọn, ý
chừng là bọn tuần.
Xe bắt đầu từ từ chạy...
Trước hai vệt ánh sáng của đèn pha thấy hiện ra một người áo tây cộc, mũ
khách bịt kín tai, giày trắng đế cao su, đứng giữa đường giơ hai tay ra chắn
xe, ra hiệu bắt dừng lại.
Anh tài xế ngừng đà xe, quay nhìn chủ.
Lão này điềm nhiên phán:
- Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu!
Thế là chiếc xe hơi cứ nhằm cái bóng người đứng dang tay mà đâm thẳng,
theo cái tốc lực sáu mươi cây số một giờ.
Vũ Trọng Phụng
GIÔNG TỐ
Chương 2
Trong cái nhà gianh ba gian của ông đồ Uẩn, hôm ấy có đông nghịt những
khách khứa. Ngoài số thân bằng cố hữu đến hỏi thăm cô Mịch bị nạn đêm
trước, lại có cả bọn lý dịch trong làng đến thúc giục ông đồ thảo đơn kiện
lên trình quan trên. Bà đồ phải nghỉ việc đồng áng để ở nhà bếp nước thết
khách. Mấy bà già, mấy cô gái ở hàng xóm cũng sang làm giúp, y như nhà
có giỗ tổ vậy. Còn cô Mịch thì nằm ốm liệt giường, song bọn con giai trong
làng cứ há mồm ra mà cười, sau khi đồn đại nhau rằng ấy là cô bé ấy làm
ra thế cho đỡ ngượng đó mà thôi. Bà Uẩn đặt lên chiếu một mâm đầy
những thịt cá rồi thì ông đồ xoa tay nói: “Bẩm các cụ thương tôi lại hỏi
thăm cháu và lo việc cho thế này, thật cảm kích quá, vậy xin mời các cụ
dùng cơm ngay đây cho tiện để còn lên quan kẻo cụ nào cũng lại phải về
nhà thì lích kích quá”. Chứ “các cụ” đây chỉ ông chánh hội, ông phó hội,
ông lý trưởng, ông phó lý, nghĩa là mấy ông tuổi mới độ 40 cả mà thôi chứ
không ai già nua tuổi tác gì, song ông đồ Uẩn dùng lối xưng hô ấy
là bởi cái tập quán ở chốn hương thôn. Bốn ông này đã ngồi chễm chệ bốn
góc giường, nhưng chưa muốn cầm đũa vội, còn ra ý đợi ông trương tuần,
một người anh em đồng tông với... khổ chủ, lúc ấy lên huyện trình quan.
Ông đồ nài:
- Mời bốn cụ chánh phó cứ việc cho, rồi chú cháu thì về ăn với tôi cũng
được.
Bốn ông kia còn dùng dằng, may sao đã thấy một giọng oang oác từ ngoài
cổng tre:
- Thôi cứ việc kiện đi là được!
Đó là ông trương tuần đã về. Mọi người xúm lại hỏi han, ồn ào đến nỗi
không còn ai nghe hiểu ai muốn nói gì nữa.
Ông Trương tuần lên họp cỗ, rồi sau một hồi mời mọc nhau lào xào, mới
kịp nói rành rọt cho cả nhà nghe:
- Tôi vào hầu cụ lại, kể hết đầu đuôi thì cụ vội thưa lên quan, và quan bảo
bây giờ bác đồ tôi có thể đệ đơn kiện kẻ vô danh, mà riêng tôi thì thay mặt
cho cả làng mà rất có thể kiện cái ông chủ nào đó, ở chỗ chiếc ô tô ấy, sao
thấy hiệu lại không dừng. Quan bảo cứ làm đơn cho rành mạch thì có thể
vịn vào cớ suýt nữa xe đè phải người mà buộc chủ xe vào tội mưu sát
được. Quan huyện là người tân học, xem ra ý sốt sắng về việc này lắm,
chắc thế nào quan cũng xét xử rất công minh.
Ông chánh hội vỗ đùi rất mạnh, múa tay nói:
- Cái kiện này thế nào cũng phải được! Vì rằng điều can hệ là biển số xe thì
nom thấy rồi, có phải không, ông Trương?
Ông Trương ngần ngừ mà rằng: - Nhớ thoang thoáng thôi ạ. Lúc ấy tôi
cũng hốt hoảng lắm, không biết là số xe thì: hai vạn bốn nghìn tám trăm
bẩy mươi nhăm, hay là hai vạn bốn nghìn tám trăm mười lăm.
Ông lý trưởng trầm tĩnh làm ra mình hiểu pháp luật:
- Mình có nhớ đích xác thì hãy khai số xe. Bằng mơ hồ thì thà kiện kẻ vô
danh còn hơn, kẻo không nhỡ trùng số xe của một người nào khác thì rồi
khốn cả đấy.
Nhưng ông phó hội tức khắc nổi giận mà rằng:
- Việc gì mà khốn cả? Ông bảo việc gì mà khốn cả? Tôi thì tôi tưởng nếu
ông Trương đã nhìn thấy như thế thì cứ việc khai trong đơn cả hai số xe,
mà không rõ đích xác là số nào! Có phải thế không, hở các cụ? Ta chỉ
nhầm mà không rõ là con 7 hay con số 1 mà thôi! Ta cứ việc khai như thế,
để nhà chức trách tiện điều tra chứ việc gì mà sợ!
Ông phó lý ngăn lại:
- Thôi đi, ngộ nhỡ quan trên khiển trách ông Trương, làm sao đi tuần mà
gặp việc như thế, có một hàng số xe cũng không nhớ, thì có phải khổ cả
không? Cái điều ấy ta phải suy nghĩ lắm mới được.
Nói rồi thì ông này từ tốn rót đầy năm cốc rượu. Năm ông mời nhau, ngửa
cổ nốc một hơi cạn đoạn ông chánh hội xắn tay áo, giơ một quả đấm lên
trần nhà hăng hái nói:
- Thôi các ông không phải bàn ra tán vào! Nói lắm chỉ nát chuyện! Ông
Trương lúc ấy mà không nhanh chân chạy né sang một bên đường thì tất
mất mạng rồi, tất nhiên đến quan thống sứ đi nữa cũng không nỡ nào bắt
ông ta phải nhớ kỹ số xe... Vậy thì ta cứ kiện! Mà thằng chánh này xin thề
với cả làng này, nếu thằng chánh này không kiện nổi cái thằng cha dâm ác
nào đó, thì thằng chánh này đem mẹ nó triện đồng mà lên trả lại quan trên.
Mấy chục người quây quần nhau trong gian nhà, ai cũng tái mặt đi vì kính
phục, không ai dám nói gì nữa. Ông chánh đứng lên, cao lênh khênh giữa
đường, lại múa tay mà rằng:
- Không thì nhục lắm, xấu hổ lắm! Mà nhục cho cả làng! Nhục cho cả cái
làng này, các cụ đã biết chưa?
Cử chỉ ấy làm cho ông đồ Uẩn cũng đâm ra sợ xanh mắt. Ông đồ ngăn một
cách vô nghĩa lý thế này:
- Thôi, cụ chánh! Xin cụ đừng nóng nảy quá thế. Việc đã xảy ra rồi, ta cứ
bình tĩnh mà nghĩ đến việc thảo đơn kiện rồi sửa soạn vào quan.
Một người hỏi:
- À, thế nhưng mà quan truyền thế nào? Quan có bảo gì ông Trương đấy
không?
Ông Trương hớn hở đáp một cách sung sướng:
- Có lắm chứ! Quan bảo tôi rằng: muốn kiện hay không thì tùy, nhưng mà
cứ bảo thằng chánh hội với thằng lý trưởng lên đây tao bảo. Quan lại bảo
thêm phải giữ cẩn thận 5 cái giấy bạc một đồng mà lão chủ xe ấy đưa cho
con Mịch thì mới có tang chứng được. A, bác đồ, thế cái số tiền ấy đâu?
Đừng có tiêu đi mất đấy nhé!
- Không, tuy nhà tôi lúc nào cũng túng thật nhưng mà ai lại tiêu như thế?
Giữa lúc ấy, bà đồ Uẩn mở phòng con gái ra, sưng mặt lên mà cự ông
trương tuần:
- Này, tôi xin ông! Ông khinh bỉ nhà tôi vừa vừa chứ! Tôi nghèo thực đấy,
nhưng không khi nào lại khốn nạn đến như thế đâu! Tôi chưa đến lúc phải
cho con gái tôi đi làm đĩ! Dù sao đi nữa thì con giai tôi cũng vẫn gửi cho tôi
mỗi tháng một số tiền.
Ông đồ nhảy lên mặt đất, như giẫm phải đống kiến lửa, tru tréo:
- Thôi đi, tôi xin con gái già! Con gái già đừng có thêm điều đẻ chuyện,
không có mà tôi điên tiết lên bây giờ đấy.
Từ buồng bên cạnh cũng thấy giọng của cô Mịch:
- Khổ lắm u ơi! Con sung sướng gì mà u còn phải lắm nhời, lắm điều như
thế nữa!
Ấy thế là ồn ào lên một hồi. Mỗi người vào một lời, thành thử nhà như là
có cuộc loạn đả. Sau nửa giờ vỡ chợ, kẻ khuyên can lại to tiếng hơn kẻ gây
sự, hàng chục cái mồm đàn ông đàn bà, già và trẻ, phân bè kéo đảng nhau
mà nói kháy nhau, chọc tức nhau. Ông chánh hội phải vớ lấy một cái gậy
mà rằng:
- Thôi cả đấy nhé! Cấm không ai được nói nửa nhời đấy, kẻo không có mà
thằng này phang cả cho một lượt chứ chẳng từ ai đâu! Lại không biết
người ta bận? Lại không biết người ta chỉ chốc nữa là phải lên quan à? Cút
cả đi cho các cụ làm việc!
Sau câu hát cai quyền ấy, lại nghe thấy tiếng “lên quan”, thì không một ai
dám nói gì nữa. Quá nửa người làng rủ nhau len lét ra về. Bà đồ vào phòng
con gái, lặng im. Sáu người kia dọn giường dọn bàn rồi ông đồ nằm bò ra
thảo đơn kiện.
Ông lý trưởng nói:
- Cái kiện này to lắm! Tôi không được mục kích nên không dám chắc
nhưng mà cứ theo như lời bác Trương nói thì dễ thường chủ xe là lão Nghị
Hách ở tỉnh miền trên ấy chứ chẳng phải xa lạ đâu!
- Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?
- Phải.
- Cái thằng cha bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và chỉ
bởi một thủ đoạn ấy đã tậu được ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền ấy à?
- Chính thế.
- Cái thằng cha độc ác đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống
giếng, mà khai người ta tự tử ấy à?
- Nó đấy?
- Thế nào? Thế thì phải kiện cho nó bỏ mẹ nó đi chứ?
Ông Lý bình tĩnh đáp ông Chánh:
- Nào biết là rồi nó bỏ mẹ hay chúng mình bỏ mẹ!
Ông đồ vứt bút xuống chiếu, ngồi lên mà rằng.
- Ông nói đến chó cũng không nghe được.
Ông Lý vẫn bình tĩnh một cách khả ố:
- Chó không nghe được nhưng mà tôi nghe được! Đây nhé: lão nghị ấy có
năm trăm mẫu đồn điền trên tỉnh này, một cái mỏ than ở Quảng Yên này,
ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nhà nữa ở Hải Phòng này, bạc
nhà nó cứ gọi gà ăn không hết, vậy ông có đủ tiền chọi nhau với nó không?
Vô phúc thời đáo tụng đình ông ạ.
Ông phó hội cự ông lý:
- Chả nhẽ nó hiếp con gái làng mà không kiện à? Sao ông cứ bàn ngang
thế?
- Tôi không bàn ngang mà cũng không ngăn trở gì ai hết. Ai có tiền có sức
cứ việc theo kiện. Nhưng tôi mong rằng cứ để ông đồ kiện về con gái ông
ấy bị hiếp mà thôi.
Ông chánh ngồi lên ngay ngắn mà rằng:
- À, thế mà lúc nãy ông cứ tự do ngồi vào đánh chén! Ông tưởng cụ đồ
làm bữa rượu ấy để cho ông ăn không đấy à? Ông phải biết nghĩa lý cái
mâm rượu ấy mới được chứ!
- Thôi, ông say rồi, tôi không dám nói nữa.
- Ông bảo ai say? Ông bảo ai say?
- Kìa, chết chửa kìa! Sao lại thế, hai ông?
- Tôi chỉ muốn bảo một mình ông đồ kiện thôi cũng đủ, chứ không việc gì
mà phải có cả lá đơn của làng cũng đứng kiện. Trương tuần không chết
chẹt thì không việc gì đến làng, mà cả làng phải đứng kiện. Tự nhiên trêu
người ta để rồi người ta thù cho cả lũ ấy à?
- Thế ông có biết quan truyền ra sao không?
- Mặc! Ông quyết không ký vào đơn.
- Ông mặc thì kệ ông? Đây có bốn người ký rồi. Chánh hội, phó hội, phó
lý, trương tuần, ký cả rồi. Còn ông là lý trưởng mà không ký thì cũng
không ai cần. Ông là đồ hèn nhát! Ông không muốn lên quan thì ông về đi.
Tuy thế, ông lý trưởng cũng không về. Ông cứ ngồi nguyên chỗ, chờ cho
đến nửa giờ sau khi hai lá đơn kiện
thảo xong rồi thì ông cũng ký. Mọi người đều được bằng lòng thì lại đến
lượt bà đồ Uẩn ra ngăn:
- Thôi, các cụ ạ! Nào biết rồi có ăn thua gì không mà kiện với tụng, rồi nay
quan gọi, mai quan gọi, chỉ tổ mất cả công việc làm ăn. Phương ngôn đã có
câu: Vô phúc đáo tụng đình.
Ông đồ phải làm ầm ĩ lên một hồi nữa rồi người ta mới quyết định kéo
nhau lên quan.
Làng Quỳnh Thôn cách xa huyện lỵ chừng mười cây số. Bà đồ Uẩn phải
mở cái hòm khóa chuông lấy nốt ba đồng bạc chinh ra trao ông đồ. Đó là
cả vốn liếng của một cái gia đình của một thầy đồ có dưới cái roi mây của
mình, đúng sáu đứa trẻ thuộc hạng nửa người, nửa ngợm, và nửa đười ươi.
Tiền xe pháo mà thừa thì chẳng kể, chứ nếu lại ăn hết vào chỗ ấy thì rồi
người ta không biết trông vào đâu mà ăn cho đến tết nguyên đán.
Thị Mịch đã phải gắng gượng ngồi dậy...
Đến lúc thấy mẹ thúc giục, cô bé phải mặc đến cái áo bông, cái quần thâm
là những cái để dành riêng cho ngày đình đám. Cô Mịch tuy nghe thấy bảo
lên để quan khám, nhưng chưa hiểu khám là thế nào. Cho nên cô cứ việc
theo mẹ ra đi.
Cả bọn lôi thôi, lốc thốc, kéo nhau ra khỏi làng. Trước những cặp mắt toét
mà còn tò mò của bọn giai làng, trước những cái mồm cười rất khả ố, cô
Mịch cúi gầm mặt xuống
đất, vịn vào tay mẹ mà đi. Còn bà đồ thì coi bộ đăm đăm, chiêu chiêu của
một tín đồ đạo Gia tô, đi vào cái hàng sẽ dẫn lên cây thập tự, hoặc sẽ bị
chết chém ở thời vua
Vũ Trọng Phụng
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương 20
Chương 21
Chương 22
Chương 23
Chương 24
Chương 25
Chương 26
Chương 27
Chương 28
Chương 29
Chương 30
ĐOẠN KẾT
Dư Luận
Vũ Trọng Phụng
GIÔNG TỐ
Chương 1
Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng vặc... cánh đồng lúa chín như một
tấm thảm vàng. Con đường quan lộ rải nhựa, như một con rắn bóng nhễ
nhại, nằm uốn khúc trên tấm thảm ấy. Những làng mạc xa xa hiện ra những
nét vẽ thẳng đen sì.
Đó là vào tháng mười, năm 1932.
Giữa lúc đêm khuya tịch mịch ấy, trên con đường quan lộ, mà thỉnh thoảng
mới có một vài cây xoan không lá khẳng khiu và tiều tụy như thứ cây trong
những bức họa về “cảnh chết”, một chiếc xe hòm phăng phăng chạy hết
tốc lực, thân xe chỉ là một cái chấm đen bóng, còn hai ngọn đèn sáng quắc
chiếu dài hàng nửa cây số thì như hai cái tên vun vút bay dưới ánh trăng.
Xe đương phăng phăng chạy thì đến gần một chỗ ngoặt mà bên đường có
một lớp quán gạch và một cây đa cổ thụ, bỗng dần dần chậm lại, rồi đứng
hẳn.
Khi xe đã đứng dừng lại lâu rồi, người ta còn thấy sự cố sức của người tài
xế mở máy sình sịch mấy lần nữa mà xe vẫn không nhúc nhích được một
ly. Rồi thì từ xe bước xuống, hai người tài xế hấp tấp ra mũi xe, lật miếng
sắt che máy ra, loay hoay kiểm điểm bộ máy. Trong khi hai người chưa tìm
được cỗ xe chết vì lẽ gì, thì từ trong hòm kính thấy đưa ra một câu hỏi gắt
rất ngắn, nhưng cũng đủ làm cho cả hai run lập cập.
- Thế nào?
Vài phút im lặng, rồi người tài xế chính ấp úng đáp:
- Bẩm quan, con đã thấy rồi. Cái ống cao su dẫn ét xăng có một đoạn nát
nhủn, đến nỗi xăng chảy cả ra ngoài nhưng mà xuống không thoát.
- ...! Sao không liệu mà thay vào cái chuyến chữa hôm nọ đi?...
Dứt lời “chửi”, “quan” bước xuống xe và sập cửa xe rất mạnh để tỏ ý giận
dữ. Đó là một người gần 50 thân thể vạm vỡ, hơi lùn, trước mặt có một
cặp kính trắng gọng vàng, trên môi có một ít râu lún phún kiểu tây, cái mũ
dạ đen hình quả dưa, cái áo đen bóng một khuy, cái quần đen, rọc trắng, đôi
giày láng mũi nhọn và bóng lộn, làm cho lão có cái vẻ sang trọng mà quê
kệch, cái vẻ rất khó tả của những anh trọc phú học làm người văn minh...
Tài xế chính và phụ, cả hai đều sợ hãi lắm, cứ việc châu đầu vào cái hòm
máy, lúc đánh diêm soi, lúc sờ soạng như
xẩm tìm gậy, chứ không dám quay lại nhìn đến ông chủ, lúc ấy đứng dạng
háng giữa đường, hai tay khoanh trước ngực, đầu hơi cúi xuống phía trước
mặt, cặp mắt gườm gườm hứa một sự trừng trị đáng sợ. Bị chủ mắng tài xế
chính khẽ quát người phụ:
- Cầm lấy cái mùi xoa này, buộc nối vào hai đầu dây cao su! Mau lên! Mà
quấn rõ chặt cho nó thật kín chứ!
Rồi người tài xế chính lại lên ngồi mở máy thử. Cái xe kêu sình sịch một
lúc lâu rồi lại thôi. Mấy bận đều thế cả, hai người càng hấp tấp bao nhiêu,
càng gia công vất vả bao nhiêu thì cái xe càng bướng bỉnh, càng ỳ ra bấy
nhiêu. Lão chủ cười nhạt mà rằng:
- Tội chúng mày đáng chết cả đó, các con ạ!
Hai anh làm công đưa mắt nhìn nhau lo sợ, chứ không dám nói gì. Lão chủ
lại tiếp:
- Chúng mày để ông ngủ đường thì khốn cả đó!
- Lạy quan, chẳng may như thế này, quan thương cho.
Tài xế chính van lơn như vậy rồi lại ra hiệu ngầm cho người phụ mình cứ
việc vờ vịt loay hoay chữa một cách vô hiệu cái bộ máy hầu như không thể
chữa được ấy.
Lão chủ hỏi:
- Thế còn bao nhiêu cây nữa đến Hà Nội?
Anh phụ lái nhanh nhảu thưa:
- Bẩm chỉ còn độ bốn mươi cây.
- Hừ!
Lão chủ hừ một cái đi đi lại lại trên đường bực tức cực điểm.
Nguyên lão ta là một ông đồn điền giàu có đã khét tiếng miền trung thổ,
bữa nay đương đêm khuya về thủ đô, là vì muốn để sáng sớm hôm sau có
đủ thời giờ đến một cửa hiệu kim hoàn, mua một thứ hàng quý giá, để
mừng một ông tổng đốc được đệ nhị đẳng Bắc đầu bội tinh. Cho nên khi
thấy xe bị liệt máy như thế ở giữa đường, đương đêm khuya, không còn
biết cầu cứu vào đâu nữa thì lão băn khoăn và bực tức, băn khoăn về nỗi sợ
đến mừng chậm hơn những người khác thì mất vẻ long trọng, và bực tức
về nỗi từ khi lão ta giàu có đến phú gia địch quốc, từ một anh cai phu mỏ
lên đến bậc nhân dân đại biểu, thì chưa hề có một sự gì trái ý lão mà lão lại
phải chịu. Lần này là lần đầu, lão phải chịu thua cái máy xe hơi.
Lão đi đi lại lại như cuồng chân, như con hổ trong cũi sắt, nghĩ đến những
cái má hồng mơn mởn, những cánh tay trắng như ngà ngọc của mấy cô
đào ở Hà Nội... nếu tài xế của lão đã biết lo liệu từ trước cho cái xe lúc nào
cũng lành lặn hoàn toàn. Vậy mà bây giờ lão phải thơ thẩn giữa nơi đồng
không mông quạnh ngắm trăng suông, nhìn sương tỏa, nghe giun kêu dế
khóc, bên cạnh những
tiếng búa gõ vào sắt cành cạch, những tiếng sình sịch của một cái xe hơi
khó tính cứ muốn chạy lại thôi...
- Tao cho chúng mày nửa giờ sau nữa đấy!
Nói rồi, lão nhằm phía cây đa mà đi thẳng trên một con đường nhỏ, qua
cánh đồng, đi dạo chơi cho tiêu diệt thì giờ, cũng không có mục đích gì
khác...
Mặt trăng lúc này thì mảng mây to lướt qua che đi thành thử trời đất tối
sầm hẳn lại. Sương xuống dầy quá, làm ướt cả áo của lão. Giữa cánh đồng
thấy tản mạn những cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất lúc cháy lúc tắt, như
ma trơi. Tiếng côn trùng tỉ tê, ri rỉ, làm cho lão ta bắt đầu cảm thấy sự im
lặng, hiểu rõ được ý nghĩa sự vắng tanh và thôi cũng không nện mạnh gót
giầy xuống đường lộp cộp nữa. Hai tay đút túi quần, lão cúi đầu xuống mà
đi, có vẻ ngẫm nghĩ như một nhà triết học... Chợt thấy về phía trước mặt
có tiếng cười khúc khích... Lão ngẩng lên, thấy bốn năm đống rạ lù lù tiến
đến. Thì ra một bọn thợ cấy đi gánh rạ đêm. Ngần ấy người cười nói
chuyện trò vui vẻ lắm.
Lão đứng tránh ra một bên.
Những đống rạ cũng lù lù tiến đến.
Đám mây to đã buông tha mặt trăng ra rồi. Trời đất lại sáng quang vì cái
ánh trăng lạnh lẽo.
Bọn thợ cấy thấy có một người ăn mặc tây đứng đấy thì thôi không
chuyện trò gì với nhau nữa, chỉ len lén rón rén đi qua. Bà lão già đi đầu khẽ
thưa.
- Quan lớn làm ơn nánh cho chúng con đi một thị.
Lão bèn làm ra cái bộ thương người mà hỏi cả lũ:
- Các người đi làm đồng khuya nhỉ? Mùa màng có khá không?
Một người trong bọn đáp một câu oán hận:
- Bẩm quan, lúa bị sâu cắn ráo cả, không đủ tiền thuê ạ.
Bà lão già đi đầu qua rồi thì đến một mụ trông bẩn thỉu. Mụ thứ ba trông
cũng xấu xí. Người gánh cái gánh rạ thứ tư là một ông lão râu đã bạc, cái
đầu trọc quấn trong miếng vải nâu trông như một cái mõ nhà chùa, gánh
thứ năm thì do một cô ả mà quần áo trông gọn ghẽ hơn hết thảy.
Lão trố mắt nhìn... Cô ả gánh rạ hơi cúi nghiêng mặt để đưa mắt nhìn trộm.
Ánh sáng trăng tuy leo lét, song cũng đủ khiến cho hai con mắt rất tinh
tường của nhà điền chủ nom thấy rõ hai cái má phúng phính, một cặp môi
nhỏ và dầy, cái cằm tròn trĩnh và hơi lẹm trong cái vành khăn mỏ quạ bằng
láng thâm. Khi cô ả gánh rạ đi qua, nghĩa là cái mặt đã khuất sau đống rạ
tròn, nhà điền chủ lại trông theo cái váy nâu cũn cỡn, do một đường lạt
khíu giữa, cho nó chẽn đến nửa đùi, một bộ đùi phốp pháp
trắng nõn, trông rất đáng yêu, mặc lòng từ bụng đến bàn chân đều có một
lớp bùn trắng, mỏng, khô, đông lại, đã nứt ra thành từng miếng nhỏ, sắp rơi
xuống...
Nhà tư bản đứng trông cái bộ đùi thôn nữ ấy một cách tần ngần trong đến
vài phút, đoạn như định thần lại, thoăn thoắt bước theo mà nói bằng một
giọng rất ân cần:
- Này chị gánh cái gánh lại chỗ xe ô tô kia, tôi mua một ít cho.
Thấy lời nói lạ tai ấy, chị nhà quê đứng lại, nửa tin, nửa ngờ.
Lão này nhanh nhảu dùng đến cái giọng hách dịch:
- Xe nổ lốp, người ta phải mua rạ để nhồi vào bánh, mà có sẵn rạ lại không
bán hay sao? Alê mau lên gánh lại, quan lớn trả cho tiền một nửa gánh!
Còn các bà già kia có muốn chờ thì cứ đi đủng đỉnh lại một tí, chị ấy đem
lại chỗ xe đây kia thôi.
Nói xong, lão khôn ngoan bước nhanh về chỗ cái xe. Bọn thợ gặt cũng
đủng đỉnh lên đến đường cái quan thì đặt gánh, ngồi phệt xuống đất, cẳng
xoạc ra và hai tay bó làm một. Còn chị nhà quê ngây thơ thì thoăn thoắt
gánh gánh rạ thẳng tiến đến cái xe hơi, trong đó quan đã chễm chệ lên ngồi
và bật đèn sáng quắc lên rồi.
Hai anh tài xế quay lại, ngừng tay, nhìn ông chủ như có ý đợi lệnh gì thì lão
chủ quát:
- Chúng mày ngẩn người ra làm gì thế? Chúng mày định để ông ngủ đêm
trên xe này phải không?
Thế là cả hai lại quay đầu vào bộ máy. Một anh vẫn còn có gan khẽ nói:
- Bẩm quan, con đã cắt được một đoạn dây ở chỗ khác để thay vào đây rồi.
Chậm lắm thì cũng chỉ nửa giờ nữa là xe chạy được.
Lời ông chủ:
- Ông cho chúng mày một giờ nữa!
Nói xong, lão chủ quay lại sau lưng nhìn qua miếng kính hậu ở hòm xe thì
thấy bọn thợ gặt đặt gánh ngồi chờ ở chỗ cách xa ô tô những ba mươi
thước còn cô bán rạ thì đã đến đứng bên cửa xe.
- Thưa quan, quan dùng hết cả gánh, hay độ bao nhiêu con tháo...
- À, con bán cho quan lớn một bên nhé! Tháo đi rồi quan cho tiền.
Trong lúc cô ả lúi húi tháo một bên quang thì nhà điền chủ ló đầu ra, đôi
mắt phong tình ngắm nghía không chớp...
- Bẩm con gạt rạ ở bên đường đó ạ.
- Ừ, để rồi quan cho tiền.
Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê
cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại
hỏi:
- Con tính bao nhiêu?
- Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.
- Được lắm! Con ngoan ngoãn lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy
lên xe này để quan đóng cửa không rét quan... Ta đang đến tiềm đây.
Chị nhà quê nhìn đến những đệm dạ đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng
nhoáng, con búp bê Nhật hay hay, treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ
sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám
bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe, chị đành liều mà
bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập một cái rồi lại hỏi:
- Thế con làm vất vả như thế thì mỗi ngày được bao nhiêu?
- Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.
- Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc tết nhé! Đây này,
năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho
chồng.
- Con xin quan lớn, cảm ơn quan lớn.
- A, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?
Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên.
- Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.
- Ấy khoan đã! Mặt con tái đi thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó,
để quan lấy cho một tị dầu trong này mà bôi rồi về thì về.
Nhà điền chủ nói xong lấy ở áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào
miệng lọ lắc một cái, rồi quờ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên
và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.
...
- Giời ơi! Con lạy ông, ông buông con ra!
Giọng quan vẫn ngọt ngào:
- Con im, không được cưỡng... - Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một
đời tôi!
- Im ngay! Quan sẽ cho nhiều tiền... - Bỏ ra! Ái.
- Im cho ngoan nào... - Ối giời đất ơi! Ối làng nước...
Hai anh tài xế khôn ngoan và trung thành muốn át những tiếng ấy, cứ việc
gõ búa thình thình vào một bộ phận nào đó trong động cơ...
Mãi đến lúc ông điền chủ ngồi lên bật đèn, chị nhà quê vẫn nằm đờ trong
xe, hai tay bưng mặt, ngất đi. Lão này cúi xuống, hôn một cái hôn cuối
cùng, lôi cái váy xuống, nhấc chị nhà quê ngồi dậy, mở cửa xe mà đẩy
người ta xuống...
- Thôi, con về với họ mau lên không họ chờ.
Chị nhà quê bị đùn ra thì ngồi phịch xuống đất, vẫn rũ người ra khóc: “Ối
cha mẹ ơi! Ôi cha mẹ...”. Lão này thản nhiên đóng sập cửa lại.
Rồi quát hỏi:
- Xong chưa?
Hai anh tài xế cuống quít gõ một hồi nữa rồi anh phụ trèo lên mở cửa thử
máy. Chợt có tiếng nổ ghê gớm của một lũ người cùng kêu một lượt:
- Ối làng nước ơi! Ối làng nước ơi! Người ta giết người!!!
Nhà điền chủ quay lại nhìn thì đó là mấy người đàn bà đứng cách xa xe,
nhưng mà chỉ kêu choáng lên thôi chứ không dám bén mảng đến. Còn chị
nhà quê vừa mất tân tiết thì vẫn ngồi sệt dưới đất, bên cạnh đống rạ, mà
kêu, mà rên...
Động cơ xe hơi nổ sình sình.
Đằng xa thấy một hồi tù và rúc lên.
Cánh cửa sập một cái, anh ét lên nốt xe...
Ở sau có tiếng lào xào: - “Ta hay Tây? Ta hay Tây?” Nhà điền chủ quay lại
lần nữa thì đó là một bọn người có tay thước, áo tơi, quần xắn gọn, ý
chừng là bọn tuần.
Xe bắt đầu từ từ chạy...
Trước hai vệt ánh sáng của đèn pha thấy hiện ra một người áo tây cộc, mũ
khách bịt kín tai, giày trắng đế cao su, đứng giữa đường giơ hai tay ra chắn
xe, ra hiệu bắt dừng lại.
Anh tài xế ngừng đà xe, quay nhìn chủ.
Lão này điềm nhiên phán:
- Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu!
Thế là chiếc xe hơi cứ nhằm cái bóng người đứng dang tay mà đâm thẳng,
theo cái tốc lực sáu mươi cây số một giờ.
Vũ Trọng Phụng
GIÔNG TỐ
Chương 2
Trong cái nhà gianh ba gian của ông đồ Uẩn, hôm ấy có đông nghịt những
khách khứa. Ngoài số thân bằng cố hữu đến hỏi thăm cô Mịch bị nạn đêm
trước, lại có cả bọn lý dịch trong làng đến thúc giục ông đồ thảo đơn kiện
lên trình quan trên. Bà đồ phải nghỉ việc đồng áng để ở nhà bếp nước thết
khách. Mấy bà già, mấy cô gái ở hàng xóm cũng sang làm giúp, y như nhà
có giỗ tổ vậy. Còn cô Mịch thì nằm ốm liệt giường, song bọn con giai trong
làng cứ há mồm ra mà cười, sau khi đồn đại nhau rằng ấy là cô bé ấy làm
ra thế cho đỡ ngượng đó mà thôi. Bà Uẩn đặt lên chiếu một mâm đầy
những thịt cá rồi thì ông đồ xoa tay nói: “Bẩm các cụ thương tôi lại hỏi
thăm cháu và lo việc cho thế này, thật cảm kích quá, vậy xin mời các cụ
dùng cơm ngay đây cho tiện để còn lên quan kẻo cụ nào cũng lại phải về
nhà thì lích kích quá”. Chứ “các cụ” đây chỉ ông chánh hội, ông phó hội,
ông lý trưởng, ông phó lý, nghĩa là mấy ông tuổi mới độ 40 cả mà thôi chứ
không ai già nua tuổi tác gì, song ông đồ Uẩn dùng lối xưng hô ấy
là bởi cái tập quán ở chốn hương thôn. Bốn ông này đã ngồi chễm chệ bốn
góc giường, nhưng chưa muốn cầm đũa vội, còn ra ý đợi ông trương tuần,
một người anh em đồng tông với... khổ chủ, lúc ấy lên huyện trình quan.
Ông đồ nài:
- Mời bốn cụ chánh phó cứ việc cho, rồi chú cháu thì về ăn với tôi cũng
được.
Bốn ông kia còn dùng dằng, may sao đã thấy một giọng oang oác từ ngoài
cổng tre:
- Thôi cứ việc kiện đi là được!
Đó là ông trương tuần đã về. Mọi người xúm lại hỏi han, ồn ào đến nỗi
không còn ai nghe hiểu ai muốn nói gì nữa.
Ông Trương tuần lên họp cỗ, rồi sau một hồi mời mọc nhau lào xào, mới
kịp nói rành rọt cho cả nhà nghe:
- Tôi vào hầu cụ lại, kể hết đầu đuôi thì cụ vội thưa lên quan, và quan bảo
bây giờ bác đồ tôi có thể đệ đơn kiện kẻ vô danh, mà riêng tôi thì thay mặt
cho cả làng mà rất có thể kiện cái ông chủ nào đó, ở chỗ chiếc ô tô ấy, sao
thấy hiệu lại không dừng. Quan bảo cứ làm đơn cho rành mạch thì có thể
vịn vào cớ suýt nữa xe đè phải người mà buộc chủ xe vào tội mưu sát
được. Quan huyện là người tân học, xem ra ý sốt sắng về việc này lắm,
chắc thế nào quan cũng xét xử rất công minh.
Ông chánh hội vỗ đùi rất mạnh, múa tay nói:
- Cái kiện này thế nào cũng phải được! Vì rằng điều can hệ là biển số xe thì
nom thấy rồi, có phải không, ông Trương?
Ông Trương ngần ngừ mà rằng: - Nhớ thoang thoáng thôi ạ. Lúc ấy tôi
cũng hốt hoảng lắm, không biết là số xe thì: hai vạn bốn nghìn tám trăm
bẩy mươi nhăm, hay là hai vạn bốn nghìn tám trăm mười lăm.
Ông lý trưởng trầm tĩnh làm ra mình hiểu pháp luật:
- Mình có nhớ đích xác thì hãy khai số xe. Bằng mơ hồ thì thà kiện kẻ vô
danh còn hơn, kẻo không nhỡ trùng số xe của một người nào khác thì rồi
khốn cả đấy.
Nhưng ông phó hội tức khắc nổi giận mà rằng:
- Việc gì mà khốn cả? Ông bảo việc gì mà khốn cả? Tôi thì tôi tưởng nếu
ông Trương đã nhìn thấy như thế thì cứ việc khai trong đơn cả hai số xe,
mà không rõ đích xác là số nào! Có phải thế không, hở các cụ? Ta chỉ
nhầm mà không rõ là con 7 hay con số 1 mà thôi! Ta cứ việc khai như thế,
để nhà chức trách tiện điều tra chứ việc gì mà sợ!
Ông phó lý ngăn lại:
- Thôi đi, ngộ nhỡ quan trên khiển trách ông Trương, làm sao đi tuần mà
gặp việc như thế, có một hàng số xe cũng không nhớ, thì có phải khổ cả
không? Cái điều ấy ta phải suy nghĩ lắm mới được.
Nói rồi thì ông này từ tốn rót đầy năm cốc rượu. Năm ông mời nhau, ngửa
cổ nốc một hơi cạn đoạn ông chánh hội xắn tay áo, giơ một quả đấm lên
trần nhà hăng hái nói:
- Thôi các ông không phải bàn ra tán vào! Nói lắm chỉ nát chuyện! Ông
Trương lúc ấy mà không nhanh chân chạy né sang một bên đường thì tất
mất mạng rồi, tất nhiên đến quan thống sứ đi nữa cũng không nỡ nào bắt
ông ta phải nhớ kỹ số xe... Vậy thì ta cứ kiện! Mà thằng chánh này xin thề
với cả làng này, nếu thằng chánh này không kiện nổi cái thằng cha dâm ác
nào đó, thì thằng chánh này đem mẹ nó triện đồng mà lên trả lại quan trên.
Mấy chục người quây quần nhau trong gian nhà, ai cũng tái mặt đi vì kính
phục, không ai dám nói gì nữa. Ông chánh đứng lên, cao lênh khênh giữa
đường, lại múa tay mà rằng:
- Không thì nhục lắm, xấu hổ lắm! Mà nhục cho cả làng! Nhục cho cả cái
làng này, các cụ đã biết chưa?
Cử chỉ ấy làm cho ông đồ Uẩn cũng đâm ra sợ xanh mắt. Ông đồ ngăn một
cách vô nghĩa lý thế này:
- Thôi, cụ chánh! Xin cụ đừng nóng nảy quá thế. Việc đã xảy ra rồi, ta cứ
bình tĩnh mà nghĩ đến việc thảo đơn kiện rồi sửa soạn vào quan.
Một người hỏi:
- À, thế nhưng mà quan truyền thế nào? Quan có bảo gì ông Trương đấy
không?
Ông Trương hớn hở đáp một cách sung sướng:
- Có lắm chứ! Quan bảo tôi rằng: muốn kiện hay không thì tùy, nhưng mà
cứ bảo thằng chánh hội với thằng lý trưởng lên đây tao bảo. Quan lại bảo
thêm phải giữ cẩn thận 5 cái giấy bạc một đồng mà lão chủ xe ấy đưa cho
con Mịch thì mới có tang chứng được. A, bác đồ, thế cái số tiền ấy đâu?
Đừng có tiêu đi mất đấy nhé!
- Không, tuy nhà tôi lúc nào cũng túng thật nhưng mà ai lại tiêu như thế?
Giữa lúc ấy, bà đồ Uẩn mở phòng con gái ra, sưng mặt lên mà cự ông
trương tuần:
- Này, tôi xin ông! Ông khinh bỉ nhà tôi vừa vừa chứ! Tôi nghèo thực đấy,
nhưng không khi nào lại khốn nạn đến như thế đâu! Tôi chưa đến lúc phải
cho con gái tôi đi làm đĩ! Dù sao đi nữa thì con giai tôi cũng vẫn gửi cho tôi
mỗi tháng một số tiền.
Ông đồ nhảy lên mặt đất, như giẫm phải đống kiến lửa, tru tréo:
- Thôi đi, tôi xin con gái già! Con gái già đừng có thêm điều đẻ chuyện,
không có mà tôi điên tiết lên bây giờ đấy.
Từ buồng bên cạnh cũng thấy giọng của cô Mịch:
- Khổ lắm u ơi! Con sung sướng gì mà u còn phải lắm nhời, lắm điều như
thế nữa!
Ấy thế là ồn ào lên một hồi. Mỗi người vào một lời, thành thử nhà như là
có cuộc loạn đả. Sau nửa giờ vỡ chợ, kẻ khuyên can lại to tiếng hơn kẻ gây
sự, hàng chục cái mồm đàn ông đàn bà, già và trẻ, phân bè kéo đảng nhau
mà nói kháy nhau, chọc tức nhau. Ông chánh hội phải vớ lấy một cái gậy
mà rằng:
- Thôi cả đấy nhé! Cấm không ai được nói nửa nhời đấy, kẻo không có mà
thằng này phang cả cho một lượt chứ chẳng từ ai đâu! Lại không biết
người ta bận? Lại không biết người ta chỉ chốc nữa là phải lên quan à? Cút
cả đi cho các cụ làm việc!
Sau câu hát cai quyền ấy, lại nghe thấy tiếng “lên quan”, thì không một ai
dám nói gì nữa. Quá nửa người làng rủ nhau len lét ra về. Bà đồ vào phòng
con gái, lặng im. Sáu người kia dọn giường dọn bàn rồi ông đồ nằm bò ra
thảo đơn kiện.
Ông lý trưởng nói:
- Cái kiện này to lắm! Tôi không được mục kích nên không dám chắc
nhưng mà cứ theo như lời bác Trương nói thì dễ thường chủ xe là lão Nghị
Hách ở tỉnh miền trên ấy chứ chẳng phải xa lạ đâu!
- Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?
- Phải.
- Cái thằng cha bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và chỉ
bởi một thủ đoạn ấy đã tậu được ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền ấy à?
- Chính thế.
- Cái thằng cha độc ác đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống
giếng, mà khai người ta tự tử ấy à?
- Nó đấy?
- Thế nào? Thế thì phải kiện cho nó bỏ mẹ nó đi chứ?
Ông Lý bình tĩnh đáp ông Chánh:
- Nào biết là rồi nó bỏ mẹ hay chúng mình bỏ mẹ!
Ông đồ vứt bút xuống chiếu, ngồi lên mà rằng.
- Ông nói đến chó cũng không nghe được.
Ông Lý vẫn bình tĩnh một cách khả ố:
- Chó không nghe được nhưng mà tôi nghe được! Đây nhé: lão nghị ấy có
năm trăm mẫu đồn điền trên tỉnh này, một cái mỏ than ở Quảng Yên này,
ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nhà nữa ở Hải Phòng này, bạc
nhà nó cứ gọi gà ăn không hết, vậy ông có đủ tiền chọi nhau với nó không?
Vô phúc thời đáo tụng đình ông ạ.
Ông phó hội cự ông lý:
- Chả nhẽ nó hiếp con gái làng mà không kiện à? Sao ông cứ bàn ngang
thế?
- Tôi không bàn ngang mà cũng không ngăn trở gì ai hết. Ai có tiền có sức
cứ việc theo kiện. Nhưng tôi mong rằng cứ để ông đồ kiện về con gái ông
ấy bị hiếp mà thôi.
Ông chánh ngồi lên ngay ngắn mà rằng:
- À, thế mà lúc nãy ông cứ tự do ngồi vào đánh chén! Ông tưởng cụ đồ
làm bữa rượu ấy để cho ông ăn không đấy à? Ông phải biết nghĩa lý cái
mâm rượu ấy mới được chứ!
- Thôi, ông say rồi, tôi không dám nói nữa.
- Ông bảo ai say? Ông bảo ai say?
- Kìa, chết chửa kìa! Sao lại thế, hai ông?
- Tôi chỉ muốn bảo một mình ông đồ kiện thôi cũng đủ, chứ không việc gì
mà phải có cả lá đơn của làng cũng đứng kiện. Trương tuần không chết
chẹt thì không việc gì đến làng, mà cả làng phải đứng kiện. Tự nhiên trêu
người ta để rồi người ta thù cho cả lũ ấy à?
- Thế ông có biết quan truyền ra sao không?
- Mặc! Ông quyết không ký vào đơn.
- Ông mặc thì kệ ông? Đây có bốn người ký rồi. Chánh hội, phó hội, phó
lý, trương tuần, ký cả rồi. Còn ông là lý trưởng mà không ký thì cũng
không ai cần. Ông là đồ hèn nhát! Ông không muốn lên quan thì ông về đi.
Tuy thế, ông lý trưởng cũng không về. Ông cứ ngồi nguyên chỗ, chờ cho
đến nửa giờ sau khi hai lá đơn kiện
thảo xong rồi thì ông cũng ký. Mọi người đều được bằng lòng thì lại đến
lượt bà đồ Uẩn ra ngăn:
- Thôi, các cụ ạ! Nào biết rồi có ăn thua gì không mà kiện với tụng, rồi nay
quan gọi, mai quan gọi, chỉ tổ mất cả công việc làm ăn. Phương ngôn đã có
câu: Vô phúc đáo tụng đình.
Ông đồ phải làm ầm ĩ lên một hồi nữa rồi người ta mới quyết định kéo
nhau lên quan.
Làng Quỳnh Thôn cách xa huyện lỵ chừng mười cây số. Bà đồ Uẩn phải
mở cái hòm khóa chuông lấy nốt ba đồng bạc chinh ra trao ông đồ. Đó là
cả vốn liếng của một cái gia đình của một thầy đồ có dưới cái roi mây của
mình, đúng sáu đứa trẻ thuộc hạng nửa người, nửa ngợm, và nửa đười ươi.
Tiền xe pháo mà thừa thì chẳng kể, chứ nếu lại ăn hết vào chỗ ấy thì rồi
người ta không biết trông vào đâu mà ăn cho đến tết nguyên đán.
Thị Mịch đã phải gắng gượng ngồi dậy...
Đến lúc thấy mẹ thúc giục, cô bé phải mặc đến cái áo bông, cái quần thâm
là những cái để dành riêng cho ngày đình đám. Cô Mịch tuy nghe thấy bảo
lên để quan khám, nhưng chưa hiểu khám là thế nào. Cho nên cô cứ việc
theo mẹ ra đi.
Cả bọn lôi thôi, lốc thốc, kéo nhau ra khỏi làng. Trước những cặp mắt toét
mà còn tò mò của bọn giai làng, trước những cái mồm cười rất khả ố, cô
Mịch cúi gầm mặt xuống
đất, vịn vào tay mẹ mà đi. Còn bà đồ thì coi bộ đăm đăm, chiêu chiêu của
một tín đồ đạo Gia tô, đi vào cái hàng sẽ dẫn lên cây thập tự, hoặc sẽ bị
chết chém ở thời vua
 





