TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Tài nguyên dạy học

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH TV

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU

    Nhằm hỗ trợ dạy và học hiệu quả, thư viện nhà trường đã xây dựng trang học liệu số với nhiều tài liệu phong phú, thiết thực. Tại đây, giáo viên và học sinh có thể dễ dàng tìm thấy bài giảng, tài liệu tham khảo, đề ôn tập, sách hay và nhiều nguồn học tập hữu ích khác. Chỉ với vài thao tác đơn giản, thầy cô có thể bổ sung tư liệu giảng dạy, học sinh có thể tự học mọi lúc, mọi nơi. Kho học liệu được cập nhật thường xuyên, phù hợp với chương trình và nhu cầu thực tế. 👉 Hãy truy cập, khám phá và sử dụng mỗi ngày để việc dạy – học trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn! Tri thức không giới hạn – chỉ cần bạn bắt đầu..

    LIÊN KẾT TRANG SÁCH ĐIỆN TỬ SGK,SGV

    💕💕 “Một giờ đọc sách mỗi ngày – thay đổi cả cuộc đờ💕“Thư viện là trái tim của nhà trường.💕

    Sách nói Út Quyên Và Tôi - Nguyễn Nhật Ánh

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Giông Tố

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Vịnh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:54' 08-04-2026
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    GIÔNG TỐ
    Vũ Trọng Phụng
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
    Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.

    Mục lục
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4
    Chương 5
    Chương 6
    Chương 7
    Chương 8
    Chương 9
    Chương 10
    Chương 11
    Chương 12
    Chương 13
    Chương 14
    Chương 15
    Chương 16
    Chương 17
    Chương 18
    Chương 19
    Chương 20
    Chương 21
    Chương 22
    Chương 23
    Chương 24
    Chương 25
    Chương 26
    Chương 27
    Chương 28
    Chương 29
    Chương 30
    ĐOẠN KẾT
    Dư Luận

    Vũ Trọng Phụng
    GIÔNG TỐ
    Chương 1
    Mặt trăng rất to và rất tròn, chiếu vằng vặc... cánh đồng lúa chín như một
    tấm thảm vàng. Con đường quan lộ rải nhựa, như một con rắn bóng nhễ
    nhại, nằm uốn khúc trên tấm thảm ấy. Những làng mạc xa xa hiện ra những
    nét vẽ thẳng đen sì.
    Đó là vào tháng mười, năm 1932.
    Giữa lúc đêm khuya tịch mịch ấy, trên con đường quan lộ, mà thỉnh thoảng
    mới có một vài cây xoan không lá khẳng khiu và tiều tụy như thứ cây trong
    những bức họa về “cảnh chết”, một chiếc xe hòm phăng phăng chạy hết
    tốc lực, thân xe chỉ là một cái chấm đen bóng, còn hai ngọn đèn sáng quắc
    chiếu dài hàng nửa cây số thì như hai cái tên vun vút bay dưới ánh trăng.
    Xe đương phăng phăng chạy thì đến gần một chỗ ngoặt mà bên đường có
    một lớp quán gạch và một cây đa cổ thụ, bỗng dần dần chậm lại, rồi đứng
    hẳn.
    Khi xe đã đứng dừng lại lâu rồi, người ta còn thấy sự cố sức của người tài
    xế mở máy sình sịch mấy lần nữa mà xe vẫn không nhúc nhích được một
    ly. Rồi thì từ xe bước xuống, hai người tài xế hấp tấp ra mũi xe, lật miếng
    sắt che máy ra, loay hoay kiểm điểm bộ máy. Trong khi hai người chưa tìm
    được cỗ xe chết vì lẽ gì, thì từ trong hòm kính thấy đưa ra một câu hỏi gắt
    rất ngắn, nhưng cũng đủ làm cho cả hai run lập cập.
    - Thế nào?
    Vài phút im lặng, rồi người tài xế chính ấp úng đáp:
    - Bẩm quan, con đã thấy rồi. Cái ống cao su dẫn ét xăng có một đoạn nát
    nhủn, đến nỗi xăng chảy cả ra ngoài nhưng mà xuống không thoát.

    - ...! Sao không liệu mà thay vào cái chuyến chữa hôm nọ đi?...
    Dứt lời “chửi”, “quan” bước xuống xe và sập cửa xe rất mạnh để tỏ ý giận
    dữ. Đó là một người gần 50 thân thể vạm vỡ, hơi lùn, trước mặt có một
    cặp kính trắng gọng vàng, trên môi có một ít râu lún phún kiểu tây, cái mũ
    dạ đen hình quả dưa, cái áo đen bóng một khuy, cái quần đen, rọc trắng, đôi
    giày láng mũi nhọn và bóng lộn, làm cho lão có cái vẻ sang trọng mà quê
    kệch, cái vẻ rất khó tả của những anh trọc phú học làm người văn minh...
    Tài xế chính và phụ, cả hai đều sợ hãi lắm, cứ việc châu đầu vào cái hòm
    máy, lúc đánh diêm soi, lúc sờ soạng như
    xẩm tìm gậy, chứ không dám quay lại nhìn đến ông chủ, lúc ấy đứng dạng
    háng giữa đường, hai tay khoanh trước ngực, đầu hơi cúi xuống phía trước
    mặt, cặp mắt gườm gườm hứa một sự trừng trị đáng sợ. Bị chủ mắng tài xế
    chính khẽ quát người phụ:
    - Cầm lấy cái mùi xoa này, buộc nối vào hai đầu dây cao su! Mau lên! Mà
    quấn rõ chặt cho nó thật kín chứ!
    Rồi người tài xế chính lại lên ngồi mở máy thử. Cái xe kêu sình sịch một
    lúc lâu rồi lại thôi. Mấy bận đều thế cả, hai người càng hấp tấp bao nhiêu,
    càng gia công vất vả bao nhiêu thì cái xe càng bướng bỉnh, càng ỳ ra bấy
    nhiêu. Lão chủ cười nhạt mà rằng:
    - Tội chúng mày đáng chết cả đó, các con ạ!
    Hai anh làm công đưa mắt nhìn nhau lo sợ, chứ không dám nói gì. Lão chủ
    lại tiếp:
    - Chúng mày để ông ngủ đường thì khốn cả đó!
    - Lạy quan, chẳng may như thế này, quan thương cho.
    Tài xế chính van lơn như vậy rồi lại ra hiệu ngầm cho người phụ mình cứ
    việc vờ vịt loay hoay chữa một cách vô hiệu cái bộ máy hầu như không thể
    chữa được ấy.
    Lão chủ hỏi:

    - Thế còn bao nhiêu cây nữa đến Hà Nội?
    Anh phụ lái nhanh nhảu thưa:
    - Bẩm chỉ còn độ bốn mươi cây.
    - Hừ!
    Lão chủ hừ một cái đi đi lại lại trên đường bực tức cực điểm.
    Nguyên lão ta là một ông đồn điền giàu có đã khét tiếng miền trung thổ,
    bữa nay đương đêm khuya về thủ đô, là vì muốn để sáng sớm hôm sau có
    đủ thời giờ đến một cửa hiệu kim hoàn, mua một thứ hàng quý giá, để
    mừng một ông tổng đốc được đệ nhị đẳng Bắc đầu bội tinh. Cho nên khi
    thấy xe bị liệt máy như thế ở giữa đường, đương đêm khuya, không còn
    biết cầu cứu vào đâu nữa thì lão băn khoăn và bực tức, băn khoăn về nỗi sợ
    đến mừng chậm hơn những người khác thì mất vẻ long trọng, và bực tức
    về nỗi từ khi lão ta giàu có đến phú gia địch quốc, từ một anh cai phu mỏ
    lên đến bậc nhân dân đại biểu, thì chưa hề có một sự gì trái ý lão mà lão lại
    phải chịu. Lần này là lần đầu, lão phải chịu thua cái máy xe hơi.
    Lão đi đi lại lại như cuồng chân, như con hổ trong cũi sắt, nghĩ đến những
    cái má hồng mơn mởn, những cánh tay trắng như ngà ngọc của mấy cô
    đào ở Hà Nội... nếu tài xế của lão đã biết lo liệu từ trước cho cái xe lúc nào
    cũng lành lặn hoàn toàn. Vậy mà bây giờ lão phải thơ thẩn giữa nơi đồng
    không mông quạnh ngắm trăng suông, nhìn sương tỏa, nghe giun kêu dế
    khóc, bên cạnh những
    tiếng búa gõ vào sắt cành cạch, những tiếng sình sịch của một cái xe hơi
    khó tính cứ muốn chạy lại thôi...
    - Tao cho chúng mày nửa giờ sau nữa đấy!
    Nói rồi, lão nhằm phía cây đa mà đi thẳng trên một con đường nhỏ, qua
    cánh đồng, đi dạo chơi cho tiêu diệt thì giờ, cũng không có mục đích gì
    khác...
    Mặt trăng lúc này thì mảng mây to lướt qua che đi thành thử trời đất tối

    sầm hẳn lại. Sương xuống dầy quá, làm ướt cả áo của lão. Giữa cánh đồng
    thấy tản mạn những cục lửa xanh, lửa đỏ trên mặt đất lúc cháy lúc tắt, như
    ma trơi. Tiếng côn trùng tỉ tê, ri rỉ, làm cho lão ta bắt đầu cảm thấy sự im
    lặng, hiểu rõ được ý nghĩa sự vắng tanh và thôi cũng không nện mạnh gót
    giầy xuống đường lộp cộp nữa. Hai tay đút túi quần, lão cúi đầu xuống mà
    đi, có vẻ ngẫm nghĩ như một nhà triết học... Chợt thấy về phía trước mặt
    có tiếng cười khúc khích... Lão ngẩng lên, thấy bốn năm đống rạ lù lù tiến
    đến. Thì ra một bọn thợ cấy đi gánh rạ đêm. Ngần ấy người cười nói
    chuyện trò vui vẻ lắm.
    Lão đứng tránh ra một bên.
    Những đống rạ cũng lù lù tiến đến.
    Đám mây to đã buông tha mặt trăng ra rồi. Trời đất lại sáng quang vì cái
    ánh trăng lạnh lẽo.
    Bọn thợ cấy thấy có một người ăn mặc tây đứng đấy thì thôi không
    chuyện trò gì với nhau nữa, chỉ len lén rón rén đi qua. Bà lão già đi đầu khẽ
    thưa.
    - Quan lớn làm ơn nánh cho chúng con đi một thị.
    Lão bèn làm ra cái bộ thương người mà hỏi cả lũ:
    - Các người đi làm đồng khuya nhỉ? Mùa màng có khá không?
    Một người trong bọn đáp một câu oán hận:
    - Bẩm quan, lúa bị sâu cắn ráo cả, không đủ tiền thuê ạ.
    Bà lão già đi đầu qua rồi thì đến một mụ trông bẩn thỉu. Mụ thứ ba trông
    cũng xấu xí. Người gánh cái gánh rạ thứ tư là một ông lão râu đã bạc, cái
    đầu trọc quấn trong miếng vải nâu trông như một cái mõ nhà chùa, gánh
    thứ năm thì do một cô ả mà quần áo trông gọn ghẽ hơn hết thảy.
    Lão trố mắt nhìn... Cô ả gánh rạ hơi cúi nghiêng mặt để đưa mắt nhìn trộm.
    Ánh sáng trăng tuy leo lét, song cũng đủ khiến cho hai con mắt rất tinh
    tường của nhà điền chủ nom thấy rõ hai cái má phúng phính, một cặp môi

    nhỏ và dầy, cái cằm tròn trĩnh và hơi lẹm trong cái vành khăn mỏ quạ bằng
    láng thâm. Khi cô ả gánh rạ đi qua, nghĩa là cái mặt đã khuất sau đống rạ
    tròn, nhà điền chủ lại trông theo cái váy nâu cũn cỡn, do một đường lạt
    khíu giữa, cho nó chẽn đến nửa đùi, một bộ đùi phốp pháp
    trắng nõn, trông rất đáng yêu, mặc lòng từ bụng đến bàn chân đều có một
    lớp bùn trắng, mỏng, khô, đông lại, đã nứt ra thành từng miếng nhỏ, sắp rơi
    xuống...
    Nhà tư bản đứng trông cái bộ đùi thôn nữ ấy một cách tần ngần trong đến
    vài phút, đoạn như định thần lại, thoăn thoắt bước theo mà nói bằng một
    giọng rất ân cần:
    - Này chị gánh cái gánh lại chỗ xe ô tô kia, tôi mua một ít cho.
    Thấy lời nói lạ tai ấy, chị nhà quê đứng lại, nửa tin, nửa ngờ.
    Lão này nhanh nhảu dùng đến cái giọng hách dịch:
    - Xe nổ lốp, người ta phải mua rạ để nhồi vào bánh, mà có sẵn rạ lại không
    bán hay sao? Alê mau lên gánh lại, quan lớn trả cho tiền một nửa gánh!
    Còn các bà già kia có muốn chờ thì cứ đi đủng đỉnh lại một tí, chị ấy đem
    lại chỗ xe đây kia thôi.
    Nói xong, lão khôn ngoan bước nhanh về chỗ cái xe. Bọn thợ gặt cũng
    đủng đỉnh lên đến đường cái quan thì đặt gánh, ngồi phệt xuống đất, cẳng
    xoạc ra và hai tay bó làm một. Còn chị nhà quê ngây thơ thì thoăn thoắt
    gánh gánh rạ thẳng tiến đến cái xe hơi, trong đó quan đã chễm chệ lên ngồi
    và bật đèn sáng quắc lên rồi.
    Hai anh tài xế quay lại, ngừng tay, nhìn ông chủ như có ý đợi lệnh gì thì lão
    chủ quát:
    - Chúng mày ngẩn người ra làm gì thế? Chúng mày định để ông ngủ đêm
    trên xe này phải không?
    Thế là cả hai lại quay đầu vào bộ máy. Một anh vẫn còn có gan khẽ nói:
    - Bẩm quan, con đã cắt được một đoạn dây ở chỗ khác để thay vào đây rồi.

    Chậm lắm thì cũng chỉ nửa giờ nữa là xe chạy được.
    Lời ông chủ:
    - Ông cho chúng mày một giờ nữa!
    Nói xong, lão chủ quay lại sau lưng nhìn qua miếng kính hậu ở hòm xe thì
    thấy bọn thợ gặt đặt gánh ngồi chờ ở chỗ cách xa ô tô những ba mươi
    thước còn cô bán rạ thì đã đến đứng bên cửa xe.
    - Thưa quan, quan dùng hết cả gánh, hay độ bao nhiêu con tháo...
    - À, con bán cho quan lớn một bên nhé! Tháo đi rồi quan cho tiền.
    Trong lúc cô ả lúi húi tháo một bên quang thì nhà điền chủ ló đầu ra, đôi
    mắt phong tình ngắm nghía không chớp...
    - Bẩm con gạt rạ ở bên đường đó ạ.
    - Ừ, để rồi quan cho tiền.
    Vờ tìm ví da trong túi áo, nhà điền chủ mắt vẫn lẳng lơ nhìn chị nhà quê
    cho mãi đến khi cầm trong tay cái ví rồi mà vẫn không lấy tiền ra vội, lại
    hỏi:
    - Con tính bao nhiêu?
    - Bẩm quan chả mấy tí, quan cho mấy xu cũng được ạ.
    - Được lắm! Con ngoan ngoãn lắm, để ta thưởng cho nhiều tiền! Con hãy
    lên xe này để quan đóng cửa không rét quan... Ta đang đến tiềm đây.
    Chị nhà quê nhìn đến những đệm dạ đẹp đẽ, những chỗ kền mạ bóng
    nhoáng, con búp bê Nhật hay hay, treo ở bên miếng kính, ngọn đèn nhỏ
    sáng chói lọi trên nóc xe, thấy nó sạch sẽ quá, sang trọng quá, không dám
    bước lên. Nhưng mà quan đã với ra định đóng cửa xe, chị đành liều mà
    bước lên vậy. Quan đóng cửa đánh sập một cái rồi lại hỏi:
    - Thế con làm vất vả như thế thì mỗi ngày được bao nhiêu?
    - Bẩm chỉ được mỗi ngày sáu xu và hai bát gạo.
    - Khổ nhỉ! Thế để quan cho năm đồng con may áo mặc tết nhé! Đây này,
    năm cái giấy bạc một đồng đấy, con đem về mà mua nhiêu, mua xã cho

    chồng.
    - Con xin quan lớn, cảm ơn quan lớn.
    - A, nhưng mà con đã có chồng rồi hay là chưa?
    Chị nhà quê cúi mặt không đáp, buộc tiền vào thắt lưng xong đứng lên.
    - Thôi lạy quan, quan cho con xuống kẻo họ đợi.
    - Ấy khoan đã! Mặt con tái đi thế kia, khéo không thì trúng phong rồi đó,
    để quan lấy cho một tị dầu trong này mà bôi rồi về thì về.
    Nhà điền chủ nói xong lấy ở áo ra một lọ gì nhỏ, để đầu ngón tay vào
    miệng lọ lắc một cái, rồi quờ tay vào trán chị nhà quê. Chị này cứ để yên
    và co ro khép đôi đùi lại, kéo cái váy xuống.
    ...
    - Giời ơi! Con lạy ông, ông buông con ra!
    Giọng quan vẫn ngọt ngào:
    - Con im, không được cưỡng... - Giời ơi, lạy ông! Ông đừng làm hại một
    đời tôi!
    - Im ngay! Quan sẽ cho nhiều tiền... - Bỏ ra! Ái.
    - Im cho ngoan nào... - Ối giời đất ơi! Ối làng nước...
    Hai anh tài xế khôn ngoan và trung thành muốn át những tiếng ấy, cứ việc
    gõ búa thình thình vào một bộ phận nào đó trong động cơ...
    Mãi đến lúc ông điền chủ ngồi lên bật đèn, chị nhà quê vẫn nằm đờ trong
    xe, hai tay bưng mặt, ngất đi. Lão này cúi xuống, hôn một cái hôn cuối
    cùng, lôi cái váy xuống, nhấc chị nhà quê ngồi dậy, mở cửa xe mà đẩy
    người ta xuống...
    - Thôi, con về với họ mau lên không họ chờ.
    Chị nhà quê bị đùn ra thì ngồi phịch xuống đất, vẫn rũ người ra khóc: “Ối
    cha mẹ ơi! Ôi cha mẹ...”. Lão này thản nhiên đóng sập cửa lại.
    Rồi quát hỏi:
    - Xong chưa?

    Hai anh tài xế cuống quít gõ một hồi nữa rồi anh phụ trèo lên mở cửa thử
    máy. Chợt có tiếng nổ ghê gớm của một lũ người cùng kêu một lượt:
    - Ối làng nước ơi! Ối làng nước ơi! Người ta giết người!!!
    Nhà điền chủ quay lại nhìn thì đó là mấy người đàn bà đứng cách xa xe,
    nhưng mà chỉ kêu choáng lên thôi chứ không dám bén mảng đến. Còn chị
    nhà quê vừa mất tân tiết thì vẫn ngồi sệt dưới đất, bên cạnh đống rạ, mà
    kêu, mà rên...
    Động cơ xe hơi nổ sình sình.
    Đằng xa thấy một hồi tù và rúc lên.
    Cánh cửa sập một cái, anh ét lên nốt xe...
    Ở sau có tiếng lào xào: - “Ta hay Tây? Ta hay Tây?” Nhà điền chủ quay lại
    lần nữa thì đó là một bọn người có tay thước, áo tơi, quần xắn gọn, ý
    chừng là bọn tuần.
    Xe bắt đầu từ từ chạy...
    Trước hai vệt ánh sáng của đèn pha thấy hiện ra một người áo tây cộc, mũ
    khách bịt kín tai, giày trắng đế cao su, đứng giữa đường giơ hai tay ra chắn
    xe, ra hiệu bắt dừng lại.
    Anh tài xế ngừng đà xe, quay nhìn chủ.
    Lão này điềm nhiên phán:
    - Cứ mở hết máy, tội vạ đâu tao chịu!
    Thế là chiếc xe hơi cứ nhằm cái bóng người đứng dang tay mà đâm thẳng,
    theo cái tốc lực sáu mươi cây số một giờ.

    Vũ Trọng Phụng
    GIÔNG TỐ
    Chương 2
    Trong cái nhà gianh ba gian của ông đồ Uẩn, hôm ấy có đông nghịt những
    khách khứa. Ngoài số thân bằng cố hữu đến hỏi thăm cô Mịch bị nạn đêm
    trước, lại có cả bọn lý dịch trong làng đến thúc giục ông đồ thảo đơn kiện
    lên trình quan trên. Bà đồ phải nghỉ việc đồng áng để ở nhà bếp nước thết
    khách. Mấy bà già, mấy cô gái ở hàng xóm cũng sang làm giúp, y như nhà
    có giỗ tổ vậy. Còn cô Mịch thì nằm ốm liệt giường, song bọn con giai trong
    làng cứ há mồm ra mà cười, sau khi đồn đại nhau rằng ấy là cô bé ấy làm
    ra thế cho đỡ ngượng đó mà thôi. Bà Uẩn đặt lên chiếu một mâm đầy
    những thịt cá rồi thì ông đồ xoa tay nói: “Bẩm các cụ thương tôi lại hỏi
    thăm cháu và lo việc cho thế này, thật cảm kích quá, vậy xin mời các cụ
    dùng cơm ngay đây cho tiện để còn lên quan kẻo cụ nào cũng lại phải về
    nhà thì lích kích quá”. Chứ “các cụ” đây chỉ ông chánh hội, ông phó hội,
    ông lý trưởng, ông phó lý, nghĩa là mấy ông tuổi mới độ 40 cả mà thôi chứ
    không ai già nua tuổi tác gì, song ông đồ Uẩn dùng lối xưng hô ấy
    là bởi cái tập quán ở chốn hương thôn. Bốn ông này đã ngồi chễm chệ bốn
    góc giường, nhưng chưa muốn cầm đũa vội, còn ra ý đợi ông trương tuần,
    một người anh em đồng tông với... khổ chủ, lúc ấy lên huyện trình quan.
    Ông đồ nài:
    - Mời bốn cụ chánh phó cứ việc cho, rồi chú cháu thì về ăn với tôi cũng
    được.
    Bốn ông kia còn dùng dằng, may sao đã thấy một giọng oang oác từ ngoài
    cổng tre:
    - Thôi cứ việc kiện đi là được!

    Đó là ông trương tuần đã về. Mọi người xúm lại hỏi han, ồn ào đến nỗi
    không còn ai nghe hiểu ai muốn nói gì nữa.
    Ông Trương tuần lên họp cỗ, rồi sau một hồi mời mọc nhau lào xào, mới
    kịp nói rành rọt cho cả nhà nghe:
    - Tôi vào hầu cụ lại, kể hết đầu đuôi thì cụ vội thưa lên quan, và quan bảo
    bây giờ bác đồ tôi có thể đệ đơn kiện kẻ vô danh, mà riêng tôi thì thay mặt
    cho cả làng mà rất có thể kiện cái ông chủ nào đó, ở chỗ chiếc ô tô ấy, sao
    thấy hiệu lại không dừng. Quan bảo cứ làm đơn cho rành mạch thì có thể
    vịn vào cớ suýt nữa xe đè phải người mà buộc chủ xe vào tội mưu sát
    được. Quan huyện là người tân học, xem ra ý sốt sắng về việc này lắm,
    chắc thế nào quan cũng xét xử rất công minh.
    Ông chánh hội vỗ đùi rất mạnh, múa tay nói:
    - Cái kiện này thế nào cũng phải được! Vì rằng điều can hệ là biển số xe thì
    nom thấy rồi, có phải không, ông Trương?
    Ông Trương ngần ngừ mà rằng: - Nhớ thoang thoáng thôi ạ. Lúc ấy tôi
    cũng hốt hoảng lắm, không biết là số xe thì: hai vạn bốn nghìn tám trăm
    bẩy mươi nhăm, hay là hai vạn bốn nghìn tám trăm mười lăm.
    Ông lý trưởng trầm tĩnh làm ra mình hiểu pháp luật:
    - Mình có nhớ đích xác thì hãy khai số xe. Bằng mơ hồ thì thà kiện kẻ vô
    danh còn hơn, kẻo không nhỡ trùng số xe của một người nào khác thì rồi
    khốn cả đấy.
    Nhưng ông phó hội tức khắc nổi giận mà rằng:
    - Việc gì mà khốn cả? Ông bảo việc gì mà khốn cả? Tôi thì tôi tưởng nếu
    ông Trương đã nhìn thấy như thế thì cứ việc khai trong đơn cả hai số xe,
    mà không rõ đích xác là số nào! Có phải thế không, hở các cụ? Ta chỉ
    nhầm mà không rõ là con 7 hay con số 1 mà thôi! Ta cứ việc khai như thế,
    để nhà chức trách tiện điều tra chứ việc gì mà sợ!
    Ông phó lý ngăn lại:

    - Thôi đi, ngộ nhỡ quan trên khiển trách ông Trương, làm sao đi tuần mà
    gặp việc như thế, có một hàng số xe cũng không nhớ, thì có phải khổ cả
    không? Cái điều ấy ta phải suy nghĩ lắm mới được.
    Nói rồi thì ông này từ tốn rót đầy năm cốc rượu. Năm ông mời nhau, ngửa
    cổ nốc một hơi cạn đoạn ông chánh hội xắn tay áo, giơ một quả đấm lên
    trần nhà hăng hái nói:
    - Thôi các ông không phải bàn ra tán vào! Nói lắm chỉ nát chuyện! Ông
    Trương lúc ấy mà không nhanh chân chạy né sang một bên đường thì tất
    mất mạng rồi, tất nhiên đến quan thống sứ đi nữa cũng không nỡ nào bắt
    ông ta phải nhớ kỹ số xe... Vậy thì ta cứ kiện! Mà thằng chánh này xin thề
    với cả làng này, nếu thằng chánh này không kiện nổi cái thằng cha dâm ác
    nào đó, thì thằng chánh này đem mẹ nó triện đồng mà lên trả lại quan trên.
    Mấy chục người quây quần nhau trong gian nhà, ai cũng tái mặt đi vì kính
    phục, không ai dám nói gì nữa. Ông chánh đứng lên, cao lênh khênh giữa
    đường, lại múa tay mà rằng:
    - Không thì nhục lắm, xấu hổ lắm! Mà nhục cho cả làng! Nhục cho cả cái
    làng này, các cụ đã biết chưa?
    Cử chỉ ấy làm cho ông đồ Uẩn cũng đâm ra sợ xanh mắt. Ông đồ ngăn một
    cách vô nghĩa lý thế này:
    - Thôi, cụ chánh! Xin cụ đừng nóng nảy quá thế. Việc đã xảy ra rồi, ta cứ
    bình tĩnh mà nghĩ đến việc thảo đơn kiện rồi sửa soạn vào quan.
    Một người hỏi:
    - À, thế nhưng mà quan truyền thế nào? Quan có bảo gì ông Trương đấy
    không?
    Ông Trương hớn hở đáp một cách sung sướng:
    - Có lắm chứ! Quan bảo tôi rằng: muốn kiện hay không thì tùy, nhưng mà
    cứ bảo thằng chánh hội với thằng lý trưởng lên đây tao bảo. Quan lại bảo
    thêm phải giữ cẩn thận 5 cái giấy bạc một đồng mà lão chủ xe ấy đưa cho

    con Mịch thì mới có tang chứng được. A, bác đồ, thế cái số tiền ấy đâu?
    Đừng có tiêu đi mất đấy nhé!
    - Không, tuy nhà tôi lúc nào cũng túng thật nhưng mà ai lại tiêu như thế?
    Giữa lúc ấy, bà đồ Uẩn mở phòng con gái ra, sưng mặt lên mà cự ông
    trương tuần:
    - Này, tôi xin ông! Ông khinh bỉ nhà tôi vừa vừa chứ! Tôi nghèo thực đấy,
    nhưng không khi nào lại khốn nạn đến như thế đâu! Tôi chưa đến lúc phải
    cho con gái tôi đi làm đĩ! Dù sao đi nữa thì con giai tôi cũng vẫn gửi cho tôi
    mỗi tháng một số tiền.
    Ông đồ nhảy lên mặt đất, như giẫm phải đống kiến lửa, tru tréo:
    - Thôi đi, tôi xin con gái già! Con gái già đừng có thêm điều đẻ chuyện,
    không có mà tôi điên tiết lên bây giờ đấy.
    Từ buồng bên cạnh cũng thấy giọng của cô Mịch:
    - Khổ lắm u ơi! Con sung sướng gì mà u còn phải lắm nhời, lắm điều như
    thế nữa!
    Ấy thế là ồn ào lên một hồi. Mỗi người vào một lời, thành thử nhà như là
    có cuộc loạn đả. Sau nửa giờ vỡ chợ, kẻ khuyên can lại to tiếng hơn kẻ gây
    sự, hàng chục cái mồm đàn ông đàn bà, già và trẻ, phân bè kéo đảng nhau
    mà nói kháy nhau, chọc tức nhau. Ông chánh hội phải vớ lấy một cái gậy
    mà rằng:
    - Thôi cả đấy nhé! Cấm không ai được nói nửa nhời đấy, kẻo không có mà
    thằng này phang cả cho một lượt chứ chẳng từ ai đâu! Lại không biết
    người ta bận? Lại không biết người ta chỉ chốc nữa là phải lên quan à? Cút
    cả đi cho các cụ làm việc!
    Sau câu hát cai quyền ấy, lại nghe thấy tiếng “lên quan”, thì không một ai
    dám nói gì nữa. Quá nửa người làng rủ nhau len lét ra về. Bà đồ vào phòng
    con gái, lặng im. Sáu người kia dọn giường dọn bàn rồi ông đồ nằm bò ra
    thảo đơn kiện.

    Ông lý trưởng nói:
    - Cái kiện này to lắm! Tôi không được mục kích nên không dám chắc
    nhưng mà cứ theo như lời bác Trương nói thì dễ thường chủ xe là lão Nghị
    Hách ở tỉnh miền trên ấy chứ chẳng phải xa lạ đâu!
    - Thằng cha có hai chục con vợ lẽ trong đồn điền ấy à?
    - Phải.
    - Cái thằng cha bỏ bã rượu vào ruộng lương dân rồi báo nhà đoan và chỉ
    bởi một thủ đoạn ấy đã tậu được ba trăm mẫu ruộng rất rẻ tiền ấy à?
    - Chính thế.
    - Cái thằng cha độc ác đánh chết người làm rồi vứt xác người ta xuống
    giếng, mà khai người ta tự tử ấy à?
    - Nó đấy?
    - Thế nào? Thế thì phải kiện cho nó bỏ mẹ nó đi chứ?
    Ông Lý bình tĩnh đáp ông Chánh:
    - Nào biết là rồi nó bỏ mẹ hay chúng mình bỏ mẹ!
    Ông đồ vứt bút xuống chiếu, ngồi lên mà rằng.
    - Ông nói đến chó cũng không nghe được.
    Ông Lý vẫn bình tĩnh một cách khả ố:
    - Chó không nghe được nhưng mà tôi nghe được! Đây nhé: lão nghị ấy có
    năm trăm mẫu đồn điền trên tỉnh này, một cái mỏ than ở Quảng Yên này,
    ba chục nóc nhà tây ở Hà Nội, bốn chục nóc nhà nữa ở Hải Phòng này, bạc
    nhà nó cứ gọi gà ăn không hết, vậy ông có đủ tiền chọi nhau với nó không?
    Vô phúc thời đáo tụng đình ông ạ.
    Ông phó hội cự ông lý:
    - Chả nhẽ nó hiếp con gái làng mà không kiện à? Sao ông cứ bàn ngang
    thế?
    - Tôi không bàn ngang mà cũng không ngăn trở gì ai hết. Ai có tiền có sức
    cứ việc theo kiện. Nhưng tôi mong rằng cứ để ông đồ kiện về con gái ông

    ấy bị hiếp mà thôi.
    Ông chánh ngồi lên ngay ngắn mà rằng:
    - À, thế mà lúc nãy ông cứ tự do ngồi vào đánh chén! Ông tưởng cụ đồ
    làm bữa rượu ấy để cho ông ăn không đấy à? Ông phải biết nghĩa lý cái
    mâm rượu ấy mới được chứ!
    - Thôi, ông say rồi, tôi không dám nói nữa.
    - Ông bảo ai say? Ông bảo ai say?
    - Kìa, chết chửa kìa! Sao lại thế, hai ông?
    - Tôi chỉ muốn bảo một mình ông đồ kiện thôi cũng đủ, chứ không việc gì
    mà phải có cả lá đơn của làng cũng đứng kiện. Trương tuần không chết
    chẹt thì không việc gì đến làng, mà cả làng phải đứng kiện. Tự nhiên trêu
    người ta để rồi người ta thù cho cả lũ ấy à?
    - Thế ông có biết quan truyền ra sao không?
    - Mặc! Ông quyết không ký vào đơn.
    - Ông mặc thì kệ ông? Đây có bốn người ký rồi. Chánh hội, phó hội, phó
    lý, trương tuần, ký cả rồi. Còn ông là lý trưởng mà không ký thì cũng
    không ai cần. Ông là đồ hèn nhát! Ông không muốn lên quan thì ông về đi.
    Tuy thế, ông lý trưởng cũng không về. Ông cứ ngồi nguyên chỗ, chờ cho
    đến nửa giờ sau khi hai lá đơn kiện
    thảo xong rồi thì ông cũng ký. Mọi người đều được bằng lòng thì lại đến
    lượt bà đồ Uẩn ra ngăn:
    - Thôi, các cụ ạ! Nào biết rồi có ăn thua gì không mà kiện với tụng, rồi nay
    quan gọi, mai quan gọi, chỉ tổ mất cả công việc làm ăn. Phương ngôn đã có
    câu: Vô phúc đáo tụng đình.
    Ông đồ phải làm ầm ĩ lên một hồi nữa rồi người ta mới quyết định kéo
    nhau lên quan.
    Làng Quỳnh Thôn cách xa huyện lỵ chừng mười cây số. Bà đồ Uẩn phải
    mở cái hòm khóa chuông lấy nốt ba đồng bạc chinh ra trao ông đồ. Đó là

    cả vốn liếng của một cái gia đình của một thầy đồ có dưới cái roi mây của
    mình, đúng sáu đứa trẻ thuộc hạng nửa người, nửa ngợm, và nửa đười ươi.
    Tiền xe pháo mà thừa thì chẳng kể, chứ nếu lại ăn hết vào chỗ ấy thì rồi
    người ta không biết trông vào đâu mà ăn cho đến tết nguyên đán.
    Thị Mịch đã phải gắng gượng ngồi dậy...
    Đến lúc thấy mẹ thúc giục, cô bé phải mặc đến cái áo bông, cái quần thâm
    là những cái để dành riêng cho ngày đình đám. Cô Mịch tuy nghe thấy bảo
    lên để quan khám, nhưng chưa hiểu khám là thế nào. Cho nên cô cứ việc
    theo mẹ ra đi.
    Cả bọn lôi thôi, lốc thốc, kéo nhau ra khỏi làng. Trước những cặp mắt toét
    mà còn tò mò của bọn giai làng, trước những cái mồm cười rất khả ố, cô
    Mịch cúi gầm mặt xuống
    đất, vịn vào tay mẹ mà đi. Còn bà đồ thì coi bộ đăm đăm, chiêu chiêu của
    một tín đồ đạo Gia tô, đi vào cái hàng sẽ dẫn lên cây thập tự, hoặc sẽ bị
    chết chém ở thời vua
     
    Gửi ý kiến

    Đến thư viện mỗi ngày – trưởng thành từng giờ.”

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGUYỄN DU - LÂM ĐỒNG !